Amylase là một enzym được sản xuất chủ yếu ở tụy và các tuyến nước bọt và với một
lượng không đáng kể ở gan và vòi trứng. Amylase tham gia vào quá trình tiêu hóa các
carbohydrat phức tạp thành các đường đơn.
Hoạt độ amylase toàn phẩn có thể đo được trong huyết thanh, nước tiểu hay trong
các dịch sinh học khác của của cơ thể (Vd: dịch cổ chướng, dịch màng phổi...). Hoạt
độ toàn phần này là tổng hoạt độ của 2 isoenzym chính: isoenzym P có nguồn gốc từ
tụy và isoenzym S có nguồn gốc từ tuyến nước bọt, phổi, sinh dục hay khối u. Trong
huyết thanh của người bình thường, isoenzym týp S chiếm ưu thế hơn một chút. Thông
thường, có thể đo được hoạt độ amylase trong huyết thanh và trong nước tiểu.
Có rất nhiều nguyên nhân gây tăng hoạt độ amylase máu và/hoặc amylase nước tiểu.
Ngoài viêm tuyến nước bọt, tình trạng gia tăng rõ rệt hoạt độ amylase gợi ý trước tiên tới chẩn
đoán viêm tụy cấp hay đợt tiến triển cấp của viêm tụy mạn. Nếu không thấy có tình trạng
viêm tụy, cần yêu cầu đo hoạt độ isoenzym P và S.
MỤC ĐÍCH VÀ CHỈ ĐỊNH XÉT NGHIỆM
Để khẳng định chẩn đoán viêm tụy cấp hay đợt cấp của viêm tụy.
CÁCH LẤY BỆNH PHẨM
- Máu: XN được thực hiện trên huyết thanh. Yêu cầu bệnh nhân nhịn ăn trước khi
lấy máu XN.
- Nước tiểu: thu bệnh phẩm nước tiểu 24h. Nước tiểu được bảo quản trong
tủ mát hay trong đá lạnh.
GIÁ TRỊ BÌNH THƯỜNG
+ Amylase máu:
- Người lớn: 53 -123 U/L hay 0,88 - 2,05 mkat/L
- Người có tuổi: tăng nhẹ so với giá trị bình thường.
+ Amylase niệu: 0-375 U/L hay 0 - 6,25 µkat/L
TĂNG HOẠT ĐỘ AMYLASE MÁU
Các nguyên nhân chính thường thường gặp là:
- Viêm tụy cấp.
- Nghiện rượu.
- Tắc mật.
- Sỏi ống mật chủ.
- Nhiễm toan cetôn do ĐTĐ.
- Tăng lipid máu.
- Cường chức năng tuyến giáp.
- Viêm nhiễm tuyến nước bọt.
- Quai bị.
- Thủng ruột non.
- Thủng ổ loét dạ dày tá tràng.
- Có thai.
- Chửa ngoài tử cung vỡ.
GIẢM HOẠT ĐỘ AMYLASE MÁU
Các nguyên nhân chính thường gặp là:
- Xơ gan.
- Viêm gan.
- Ung thư tụy.
- Bỏng nặng.
- Nhiễm độc giáp nặng.
- Nhiễm độc thai nghén (toxemia of pregnancy).
CÁC YẾU TỐ GÓP PHẦN LÀM THAY ĐỔI KẾT QUẢ XÉT NGHIỆM
- Mẫu bệnh phẩm bị vỡ hồng cầu có thể làm thay đổi kết quả XN.
- Bệnh phẩm bị nhiễm bẩn nước bọt có thể gây tăng giả tạo kết quả xét
nghiệm.
- Tăng triglycerid nặng (> 5 lần giá tri bình thường cao) có thể gây tình
trạng ức chế hoạt độ enzym. Suy thận cũng có thể gây tăng vừa hoạt độ amylase
huyết thanh.
- Các thuốc có thể làm tăng hoạt độ amylase huyết thanh là:
acetaminophen, kháng sinh, aspirin, corticosteroid, estrogen, furosemid, thuốc
kháng viêm không phải steroid, prednison, salicylat và các lợi tiểu nhóm thiazid.
- Các thuốc có thể làm tăng hoạt độ amylase nước tiểu: rượu, aspirin,
bethanechol, codein, indomethacin, meperỉdỉn, morphin, pentazocin, thuốc lợi
tiểu nhóm thiazid.
- Các thuốc có thể làm giảm hoạt độ amylase huyết thanh là: citrat,
glucose, oxalat
- Các thuốc có thể làm giảm hoạt độ amylase niệu là là: fluorid, glucose.
LỢI ÍCH CỦA XÉT NGHIỆM ĐO HOẠT ĐỘ AMYLASE MÁU VÀ NƯỚC TIỂU
1. XN không thể thiếu đối với tất cả các trường hợp đau bụng bị nghi vấn do
nguồn gốc tụy và các trường hợp vàng da không rõ nguồn gốc.
2. Đo hoạt độ amylase huyết thanh thường được thực hiện để chẩn đoán
phân biệt tình trạng đau bụng do viêm tụy cấp với đau bụng cần điều trị ngoại
khoa do các nguyên nhân khác. Hoạt độ amylase huyết thanh bắt đầu tăng lên
từ 3 - 6h sau khi xảy ra tình trạng viêm tụy cấp và đạt giá trị đỉnh vào khoảng giờ
thứ 24. Hoạt độ này trở lại giá trị bình thường sau đó 2 - 3 ngày. Hoạt độ amylase
niệu tăng cao trong vòng 7-10 ngày, vì vậy XN hoạt độ amylase niệu là một XN hữu ích để chứng minh có tình trạng viêm tụy cấp sau khi hoạt độ amylase huyết
thanh đã trở về bình thường.
3. Cũng có thể định lượng hoạt độ amylase trong dịch cổ chướng hay dịch
màng phổi. Tăng hoạt độ amylase trong các dịch này (> 1 000 U/L) gợi ý tràn dịch
có nguồn gốc từ tụy.
CÁC HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH LÂM SÀNG DỰA TRÊN Y HỌC BẰNG CHỨNG
Chẩn đoán viêm tụy cấp được nghi vấn ở các BN có biểu hiện đau bụng vùng
thượng vị với khởi đầu cấp tính, tăng nhanh trong mức độ nặng và diễn biến
không thuyên giảm. Hoạt độ amylase và/hoặc lipase huyết thanh > 3 lần giá trị
bình thường được coi là có giá trị chẩn đoán.
CÁC CẢNH BÁO LÂM SÀNG
- Điển hình ra, phải đánh giá cả hoạt độ amylase và lipase huyết thanh đối
với các trường hợp nghi ngờ viêm tụy cấp.
- Ở một số BN bị viêm tụy cấp song không thấy có tăng bất thường enzym
tụy.
- Một số BN bình thường có tình trạng tăng amylase máu được biết dưới
tên "macroamylase". Tình trạng này được xác định khi BN có tăng hoạt độ amylase
máu song amylase niệu bình thường và không có tình trạng suy thận. Tăng cao
bất thường hoạt độ amylase máu ở các BN này là do amylase được gắn bất thường
với một globulin huyết tương.
Theo Xét nghiệm thường quy áp dụng trong thực hành lâm sàng